in typô

 


 

Phương pháp in bằng chữ rời do Gutenbec I. G. (J. G. Gutenberg) người Đức sáng chế (1440).

 

Các con chữ rời bằng hợp kim (chì, thiếc, antimon) đúc thủ công, được sắp xếp theo nội dung bản văn, bản văn chính là bản in lắp vào máy để in ra thành nhiều bản. In typô thuận lợi, nhanh và nhiều nên đã phát triển mạnh ở các nước Châu Âu; đến thế kỉ 16, được truyền sang Nga; thế kỉ 17 - 18, sang Hoa Kì.

 

Sau được thay thế bằng bản chì phẳng, bản mạ đồng, bản khắc gỗ trên các loại máy in dập, máy in cuốn; gần đây đã sử dụng bản in bằng chất dẻo photopolime trên máy in cuốn hiện đại có tốc độ cao.

 

In typô vào Việt Nam từ 1861 ở Sài Gòn; năm 1905 ở Hà Nội.

 

Từ 1945 đến gần đây, in typô hầu như đã được thay thế bằng in ôpxet.