bản đồ

 


 

là mô hình khái quát thể hiện các đối tượng địa lý ở tỷ lệ nhất định, theo quy tắc toán học, bằng hệ thống ký hiệu quy ước, dựa trên kết quả xử lý thông tin, dữ liệu từ quá trình đo đạc.

 

Có thể coi bản đồ là mô hình kí hiệu tượng hình có tính thông tin cao, có sự tương ứng không gian – thời gian so với nguyên gốc, có tính bao quát lớn và tính rõ ràng, có khả năng đo đạc. Vì vậy, bản đồ trở thành phương tiện nhận thức quan trọng nhất về các khoa học Trái Đất và các khoa học về kinh tế – xã hội, dùng để phản ánh trực quan những tri thức đã tích luỹ được cũng như để nhận biết những tri thức mới.

 

Theo quy định của Luật Đo đạc và Bản đồ năm 2018, bản đồ địa hình quốc gia của Việt Nam gồm làm 3 nhóm tỉ lệ:

Tỉ lệ lớn               1:2.000, 1:5.000, 1:10.000

Tỉ lệ trung bình    1:25.000, 1:50.000, 1:100.000

Tỉ lệ nhỏ               1:250.000, 1:500.000, 1:1.000.000

Trong đó:

Bản đồ địa hình quốc gia trên đất liền tỷ lệ 1:2.000 và 1:5.000 được thành lập cho khu vực đô thị, khu vực phát triển đô thị, khu chức năng đặc thù, khu vực cần lập quy hoạch phân khu và quy hoạch nông thôn; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia; bản đồ địa hình quốc gia tỷ lệ 1:10.000 và tỷ lệ nhỏ hơn được thành lập phủ kín đất liền Việt Nam.

Bản đồ địa hình quốc gia, bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ lớn được thành lập cho khu vực đảo, quần đảo, cửa sông, cảng biển.

Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ trung bình được thành lập phủ kín nội thủy, lãnh hải.

Bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ nhỏ được thành lập phủ kín vùng biển Việt Nam.

 

Tương ứng với nội dung thể hiện, có thể phân thành các nhóm bản đồ sau: bản đồ địa lí chung, bản đồ chuyên đề (trong đó bao gồm: bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế – xã hội, các bản đồ có sự tác động lẫn nhau giữa tự nhiên và kinh tế – xã hội, bản đồ chuyên môn.