bản đồ gốc   

A: original map


(cg. bản gốc bản đồ), bản đồ ban đầu hoặc nguyên bản, từ đó có thể tiến hành nhân bản.

Theo phương pháp thành lập bản đồ bằng công nghệ truyền thống, bản đồ gốc gồm các loại:

1) Bản gốc tác giả: bản đồ được tác giả lập với độ chính xác cần thiết với mức độ đầy đủ và chi tiết về nội dung theo đúng thiết kế, được lập ở tỉ lệ bản đồ sẽ in, có chất lượng trình bày tốt, theo quy định về màu sắc trong thiết kế.

2) Bản đồ đo vẽ từ thực địa: bản vẽ được lập trên cơ sở các số liệu đo vẽ ngoài thực địa bằng máy bàn đạc, máy toàn đạc;

3) Bản gốc đo vẽ từ ảnh hàng không: bản vẽ được đo vẽ từ các ảnh chụp mặt đất bằng máy bay;

4) Bản gốc biên vẽ: bản gốc nét được vẽ trên đế không biến dạng dùng để lập bản đồ gốc chế in. Theo công nghệ số, bản gốc biên vẽ được thực hiện trên máy tính và in ra giấy hoặc lưu trên các thiết bị nhớ. Bản gốc biên vẽ thường thành lập ở tỉ lệ của bản đồ sẽ in, trên đó vẽ tất cả các phần tử nội dung của bản đồ theo đúng thiết kế hoặc quy phạm.

5) Bản gốc chế in: bản đồ gốc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của kĩ thuật chế bản và in, dùng để chế các bản sao và bản in.

Bản gốc chế in phải thoả mãn các yêu cầu: theo đúng nội dung của bản gốc biên vẽ; theo đúng các quy định về kí hiệu, kiểu, cỡ chữ; nét vẽ rõ ràng, đẹp, bảo đảm các yêu cầu của khâu sao, phiên và chế bản in; kích thước của bản gốc chế in phải theo đúng quy định.

Bản gốc chế in phân thành: bản gốc nét, bản gốc chữ, bản gốc nền màu và bản gốc nửa tông.

Theo phương pháp thành lập bản đồ bằng công nghệ tin học, khái niệm giữa các loại bản gốc hầu như không có sự phân biệt rõ ràng.

Có thể đồng nhất bản gốc tác giả và bản gốc biên vẽ, còn bản gốc chế in cũng chính là bản gốc biên vẽ có sự biên tập lại một số yếu tố để đảm bảo kĩ thuật chế in bằng máy chế bản điện tử.