bản đồ địa hình

 

A: topographic map

 


 

Một loại bản đồ địa lí chung. Ở Việt Nam, các loại bản đồ địa lí chung có có tỉ lệ lớn hơn và bằng 1:1 000 000 là bản đồ địa hình.

 

Bản đồ địa lí chung là mô hình thu nhỏ một khu vực của bề mặt trái đất thông qua phép chiếu toán học nhất định, có tổng quát hoá và bằng hệ thống kí hiệu phản ánh sự phân bố, trạng thái và các mối quan hệ tương quan nhất định giữa các yếu tố cơ bản của địa lí tự nhiên và kinh tế xã hội với mức độ đầy đủ, chi tiết và độ chính xác cao, các yếu tố này được biểu thị tương đối như nhau và phần lớn giữ được hình dạng, kích thước theo tỉ lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác hình học của kí hiệu và tính tương ứng địa lí của yếu tố nội dung cao.

 

Bản đồ địa hình có các tính chất sau:

 

1) Được thành lập trên cơ sở toán học nhất định;

 

2) Sử dụng hệ thống kí hiệu theo quy định chặt chẽ, thống nhất và có tính pháp lí của quốc gia;

 

3) Trên bản đồ có sự lựa chọn và khái quát các đối tượng được biểu thị;

 

4) Có hệ thống tỉ lệ, cách chia mảnh và đánh số mảnh thống nhất, có quy trình, quy phạm và kí hiệu chung do Nhà nước ban hành;

 

5) Có tính hiện thời và độ chính xác cao;

 

6) Là tài liệu cơ bản để thành lập các loại bản đồ khác.

 

Ở Việt Nam, có ba hệ thống bản đồ địa hình:

 

1) Bản đồ địa hình do Sở Địa dư Đông Dương lập dưới thời Pháp thuộc (từ đầu thế kỉ 20 đến 1954) theo phép chiếu bản đồ Bone và elipxôit Clac; 

 

2) Bản đồ địa hình do cơ quan bản đồ quân sự Hoa Kì và chính quyền Sài Gòn thành lập trong các năm 1961 - 1967 theo phép chiếu hình trụ ngang Mecato (UTM) và elipxôit Êvêret;

 

3) Bản đồ địa hình do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước và Cục Bản đồ Bộ tổng Tham mưu lập từ 1955 đến nay theo phép chiếu bản đồ Gauxơ và elipxôit Kraxôpxki, Hệ HN-72. Cuối năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố hoàn thành bộ bản đồ địa hình phủ trùm toàn quốc tỉ lệ 1:50 000 theo phép chiếu UTM và elipxôit WGS84, Hệ VN-2000, gồm 573 mảnh.