bản đồ

 


 

Hình ảnh tổng quát của bề mặt Trái Đất, các thiên thể hoặc không gian vũ trụ trên mặt phẳng theo những quy tắc toán học xác định, được thu nhỏ theo quy ước và khái quát hoá để phản ánh sự phân bố, trạng thái và những mối liên hệ của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, xã hội được chọn lọc và thể hiện bằng hệ thống kí hiệu và màu sắc.

 

Có thể coi bản đồ là mô hình kí hiệu tượng hình có tính thông tin cao, có sự tương ứng không gian – thời gian so với nguyên gốc, có tính bao quát lớn và tính rõ ràng, có khả năng đo đạc. Vì vậy, bản đồ trở thành phương tiện nhận thức quan trọng nhất về các khoa học Trái Đất và các khoa học về kinh tế – xã hội, dùng để phản ánh trực quan những tri thức đã tích luỹ được cũng như để nhận biết những tri thức mới.

 

Về tỉ lệ, có thể phân biệt: bản đồ tỉ lệ lớn (≥1:100 000), bản đồ tỉ lệ trung bình (từ 1:200 000 đến 1:1 000 000), bản đồ tỉ lệ nhỏ (≤1:1 000 000).

 

Tương ứng với nội dung thể hiện, có thể phân thành các nhóm bản đồ sau: bản đồ địa lí chung, bản đồ chuyên đề (trong đó bao gồm: bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế – xã hội, các bản đồ có sự tác động lẫn nhau giữa tự nhiên và kinh tế – xã hội, bản đồ chuyên môn.

 

Tất cả các thể loại bản đồ trên là bản đồ giải tích, phức hợp hoặc tổng hợp.

 

Theo sự chuyên môn hóa trong thực tiễn, có thể phân biệt một số kiểu bản đồ: bản đồ kiểm kê, phản ánh sự tồn tại và phân bố của các đối tượng, hiện tượng; bản đồ đánh giá, phản ánh đặc điểm phù hợp của các đối tượng đối với một số kiểu hoạt động kinh tế nào đó; bản đồ đề xuất, phản ánh sự bố trí các biện pháp được đề ra để bảo vệ các điều kiện tự nhiên và sử dụng tối ưu tài nguyên; bản đồ dự báo, phản ánh sự báo trước mang tính khoa học về các hiện tượng mà hiện thời chưa có hoặc chưa rõ ràng.

 

Bản đồ cổ nhất thế giới mà đến nay còn biết có từ thiên niên kỷ 5 tCN. Những bản đồ cổ nhất làm nổi bật các quan hệ địa hình như sự quan hệ, sự gần kề và sự ngăn cách. Sự phát triển lớn trong việc lập bản đồ diễn ra khi hình học ra đời, nó đã được sử dụng lần đầu tiên ở Babylon vào khoảng thế kỷ 23 tCN. Bản đồ được khắc ở thành phố thánh thần Nippur, trong thời kỳ Kassite (thế kỷ 14 tCNthế kỷ 12 tCN) trong lịch sử Babylon, đã được tìm thấy ở Nippur. Người Ai Cập cổ đại sau này cũng sử dụng hình học để đo đạc đất đai cũng như tái đo đạc nó sau những thời kỳ ngập lụt của Nin do các ranh giới đã bị mất đi. Người Hy Lạp cổ đại đã bổ sung thêm tính nghệ thuật và khoa học cho bản đồ học. Strabo (khoảng 63 tCN – khoảng 21 tCN) được coi là cha đẻ của địa lí vì ông đã viết Geographia (Địa lí), trong đó ông dẫn chứng và phê bình các công trình của những người khác (phần lớn trong số họ ngày nay chúng ta không biết do Strabo không nói đến tên của họ). 

 

Bản đồ thông thường được lập ra bằng giấybút, nhưng sự ra đời và phổ biến của máy tính đã tạo ra nhiều thay đổi trong khoa học bản đồ. Phần lớn các bản đồ có chất lượng thương mại ngày nay được tạo ra nhờ các phần mềm lập bản đồ. Chúng có thể là CAD, GIS hay các phần mềm lập bản đồ chuyên nghiệp nào đó.Các chức năng của bản đồ như là công cụ trực quan cho các số liệu không gian.

 

Các số liệu này thu được từ công việc đo đạc có thể lưu trữ trong cơ sở dữ liệu, từ đó nó được xử lí thành các loại bản đồ cho các mục đích khác nhau. Xu hướng hiện nay trong lĩnh vực này là chuyển dần từ các phương pháp tương tự sang các phương pháp sử dụng kĩ thuật số nhằm tạo ra các bản đồ có tính động và tương tác cao.